Hơn hai mươi năm trước tôi về Sông Đốc như cuộc hành hương tìm lại dư âm của những ngày tập kết.
Giàu của, giàu cả chân thành
Thị trấn nhỏ như bàn tay, nằm trải dọc hai bờ cửa sông đã từng dang tay nuôi dưỡng hàng chục vạn người khắp Nam Bộ dồn về, những giọt nước mắt chia ly thấm mặn nước sông cửa biển. Dấu vết vật chất của cuộc hành quân vĩ đại ấy hầu như không còn lại chút nào nhưng ký ức và sức sống của Sông Đốc vẫn hừng hực như những ngày oanh liệt đó.
Chỉ cần biển trở mình dậy sóng, thị trấn lại đông nghịt tàu thuyền của khắp các tỉnh từ Thừa Thiên-Huế, Quảng Ngãi, Khánh Hòa đến Tiền Giang, Trà Vinh... Sông Đốc, Cà Mau sau hòa bình lại là nơi tập kết của ngư dân khắp mọi miền đất nước. Có lẽ phù sa và nguồn phiêu sinh vật từ mảnh rừng U Minh còn sót lại đã thu hút cá, tôm, vùng biển quanh bán đảo Cà Mau trở thành ngư trường lớn nhất nước và Sông Đốc trở thành tâm điểm. Thời đó, biển Cà Mau phồn thịnh như cô gái đang thì, giá thu mua cá, tôm của nhà nước rẻ mạt có lúc không đủ đổi lấy xăng dầu nhưng ngư dân truyền nhau câu nói “Nghề biển giàu lẹ hơn ăn cướp”.
Anh Sáu Hưng, một ngư dân mấy đời sống bằng nghề biển, thuộc lòng biển tới độ nửa đêm thức dậy không cần bản đồ, la bàn, chỉ nghe hơi gió phai phái bên tai là biết được đang ở vị trí nào trên biển. Chỉ riêng cá đuối anh có thể nhận dạng, đọc tên được trên 130 loài. Ngon thịt nhất là ó sao, ó biển. Kỳ lạ nhất là con kéo đẩy, chỉ biết tiến chớ không biết lùi. Đầu cá hình chữ V như cái chàng nạng, gặp vật cản nó cứ vẫy đuôi đẩy tới dù tróc da kiệt sức, không thể bơi lui.
Vài năm trước đó, anh Sáu Hưng trúng mẻ cá gún huyền thoại trên 120 tấn. Huy động cả chục chiếc ghe chở cá từ biển vô bờ ba ngày ba đêm mới hết. Chuyển xong mẻ cá, từ ngư phủ tới những ngư dân sơ chế cá cứ gặp đâu ngủ đó, lăn lóc trên mũi ghe, bờ đất. Thu nhập từ mẻ cá cộng với tiền của anh em từ nước ngoài hỗ trợ, anh Sáu Hưng đóng mới thêm ba chiếc tàu và trở thành ông chủ.

Cửa biển Sông Đốc luôn đông nghịt ghe tàu khắp nước đổ về. Ảnh: ĐÀO HỒNG
Câu chuyện mẻ cá của anh như thỏi nam châm thu hút thêm bao tàu cá khác gom về Sông Đốc. Căn nhà nằm cặp bờ sông nhìn ra cửa biển của anh như một chiêu anh quán luôn mở cửa đón tiếp khách gần xa bất kể lạ quen. Nhờ tấm lòng hào phóng, hiếu khách của anh, chúng tôi - người khách xa lạ không được mời - mới thẩm thấu hương vị ngọt ngào của cá nâu, cá nhồng, mực tươi của biển Cà Mau.
Biết chúng tôi còn thèm vị phiêu lưu, sau mấy ngày thù tạc, anh ngoắc chiếc tàu cá gửi chúng tôi đi nhờ qua Cái Đôi Vàm. Lúc chia tay anh quyến luyến, bứt rứt như đang tìm kiếm cái gì quan trọng lắm. Rồi anh mừng rỡ bước ra bờ sông kéo cái nó lên, lấy ra con đồi mồi to bằng cái mâm tặng cho chúng tôi làm kỷ niệm. Tôi hốt hoảng từ chối là dân nước ngọt không thể nuôi vật quý này, anh kèo nài: “Dễ ợt! Cứ lấy nước sông quậy muối mà nuôi. Nếu lỡ chết thì thịt làm mồi, mai để treo chơi cũng đẹp”.
Con đồi mồi chết ngay trong đêm đầu tiên tôi rời Sông Đốc về Cái Đôi Vàm, còn cái mai cũng mất mấy ngày sau đó nhưng vẻ lưu luyến chân thành của anh Sáu Hưng mãi đeo đuổi theo tôi đến tận bây giờ.
Vị mặn ân tình
Nhưng tình người ở biển phương Nam không chỉ có anh Sáu Hưng. Ở Cái Đôi Vàm chúng tôi lại gặp thêm tấm lòng hào phóng khác - anh Sáu Thuận, bí thư xã.
Cũng là cửa biển nhưng Cái Đôi Vàm thời đó nghèo và hoang sơ lắm so với vẻ phồn thịnh của Sông Đốc. Trụ sở xã là căn nhà lá, nền đất lông chông. Phía ngoài chỉ vài cái bàn làm việc, bên trong lổng chổng mấy cái giường làm chỗ nghỉ cho cán bộ xã. Trời vừa xẩm tối, anh Sáu Thuận đãi chúng tôi mấy con cá biển nhắm với rượu Phú Tân nổi tiếng cay nồng. Anh chỉ tay vô mấy chiếc mùng giăng sẵn phía sau: “Muỗi Cà Mau dữ lắm, mùng đó để dành cho “đối tượng chính sách”. Đứa nào còn khỏe thì ngồi với tao tới sáng. Mai tao sẽ mượn ghe đổ dầu cho tụi bây đi Hòn Khoai. Tao biết đám nghệ sĩ, báo chí tụi bay hổng mần ăn ra cơm gạo gì nhưng nhiều khi tụi bay hứng lên, viết được cái gì đó có ích cho đời. Đưa tụi bay đi không sợ tốn”.
Chính nhờ anh Sáu Thuận chúng tôi được dịp tới Hòn Khoai tìm lại bước chân của người thầy giáo, nhà báo, nhà cách mạng Phan Ngọc Hiển năm 1940 từng nổi dậy chiếm đảo rồi đưa lực lượng về đất liền khởi nghĩa cướp chính quyền ở vùng đất cực nam.
Trên những con sóng dập dờn của biển phương Nam, những đồng nghiệp địa phương kể về cuộc đời anh Sáu Thuận như một huyền thoại khác về tình người. Nguyên anh là học trò đi kháng chiến, đã có người yêu ở hậu phương. Trong một trận chống càn, một đồng đội lớn tuổi bị thương nặng, anh hết lòng cứu chữa. Trong lúc hấp hối, người đồng đội trối lại nhờ anh chăm sóc cô con gái và nhận cô này làm vợ. Anh chưa kịp từ chối thì người này hy sinh. Chỉ vậy đó mà tới ngày hòa bình, anh gạt nước mắt chia tay người yêu để làm tròn di nguyện của người đã khuất. Câu chuyện của anh như có vị mặn của biển mà trên đất liền khó lòng tìm thấy. Phải chăng sự va chạm đối kháng với bà mẹ biển phương Nam vừa khắc nghiệt vừa giàu của đã hun đúc nên tấm lòng hào phóng chan chứa nghĩa tình của con người đất Mũi?
Sau bao thiên tai và nạn phá rừng, U Minh Thượng đã hoàn toàn xóa sổ, U Minh Hạ chỉ còn những rẻo nhỏ mươi ngàn hecta. Biển cũng dần cạn kiệt, ngư dân ngày càng rượt đuổi theo những đàn cá ngư trường xa hơn. Nhưng mỗi lần biển trở mình, Sông Đốc lại đen đặc những đoàn tàu của mọi miền đất nước trụ về trú bão. Mặt nước Sông Đốc vẫn ngày đêm cồn cào dậy sóng, liệu tấm lòng hào phóng của con người có trường tồn theo dòng sông ra biển lớn?
ANH KIỆT