27/01/2010 - 12:17 AM

Gia phả

Theo dòng phát triển của mình, mỗi tộc chia ra thành nhiều phái, chi, phân chi rồi đến hệ. Gia phả tộc cũng được phân chia thành phả hệ các phái, chi, phân chi... và do các trưởng nam phụng thờ, cất giữ rất cẩn thận.

“Chim có tổ, người có tông, Như cây có cội, như sông có nguồn...”

Các phả hệ thường được viết trên giấy dó, có nơi viết trên lụa tốt, cuộn tròn đặt vào các ống tre, ống đồng và để ở những nơi trang trọng nhất trên gian thờ giữa nhà chính. Chỉ những ngày giỗ chạp, ngày tết cháu con tề tựu, người tộc trưởng hoặc trưởng nam dựng lễ vật, thắp nhang khấn ông bà tiên tổ xin “thỉnh khai gia phả” thì mới được lấy xuống, thường là để phổ biến cho con cháu, viết bổ sung các đời lớp tiếp sau hoặc thêm vào các sự kiện, biến cố trong tộc phái...

Do đó, tộc phả là bộ sử của gia đình, dòng họ, là văn bản hết sức quan trọng, thiêng liêng của mọi người. Vai trò của người trưởng nam, trưởng tộc vì thế mang ý nghĩa là một đại diện tinh thần, là một biểu tượng cho gia cương. Do đó, đòi hỏi người đó phải có cuộc sống chuẩn mực, gương mẫu.

Về thăm làng cũ vào những ngày nghỉ tết và có dịp hầu chuyện với những bậc cao niên, tôi thường nghe được nhiều câu chuyện thiêng liêng về gia phả.

Chuyện một cánh diều đứt dây

Một hôm, người em của vị trưởng nam một chi của tộc X đi thăm đồng. Chân ông vướng vào con diều bị đứt dây vừa rơi trên bờ ruộng. Cúi xuống nhặt cánh điều, bất ngờ những dòng chữ Nho rõ mồn một đập vào mắt. Ông bỏ cuốc xuống và tiếp tục chú mục vào những dòng chữ khác. Không thể tin được, đó là tên tuổi, gốc gác của những bậc trưởng thượng và cả tổ tiên ông từ nhiều đời trước. “Không lẽ cuốn phả hệ của nhà mình lại bị đem ra dán diều cho trẻ con?” - một câu hỏi vừa hiện lên trong đầu ông. Vừa lúc đó, chú bé bị mất điều đi tới.

- Cháu có con diều đẹp quá! Ai dán cho cháu vậy?

 - Dạ, cha cháu.

 - Nhà cháu ở đâu?

 - Dạ, ở chòm đồng bên kia sông.

Ông bảo cháu nhỏ đưa ông về nhà. Vừa bước vào sân nhà cháu bé, ông đã nhận ra cha của cháu đang lui cui dán những tờ giấy vào nan tre của những cái quạt...

Người đàn ông đang làm diều kể: Trên đường đi bán kẹo kéo ông gặp một cháu bé đòi đổi một tập giấy mỏng lấy kẹo. Đó là tập giấy chi chít chữ. Không biết chữ nhưng ông biết loại giấy đó có thể làm quạt cho những đêm hè nóng nực, ít ra cũng làm một con diều cho thằng con ra thả trên đồng... Khi nghe người em họ của vị trưởng nam của tộc X nói đó chính là cuốn gia phả của chi phái mình, người cha nghèo ấy đã tím tái sắc mặt và xin trả lại, nhất quyết lạy tạ vì biết lỗi...      

Em trai ông trưởng nam chi X mang cả những trang còn lại của cuốn gia phả và cả những cái quạt nan đã bồi giấy trở về, mời các anh em thúc bá lại rồi cùng nhau đến nhà trưởng nam lục vấn. Họ viện các lý do để đòi được xem gia phả mà ông này đang giữ và thờ phụng. Lúc đuối lý, vị trưởng nam mới chịu lên trang thờ thắp nhang khấn lạy và trịnh trọng mang chiếc ống tre đựng gia phả xuống. Chỉ còn là chiếc ống tre rỗng không!

Tìm lại dấu xưa. Ảnh: HUỲNH TRÍ DŨNG

“Anh không đem gia phả đi bán thì vợ anh! Không vợ anh thì là con anh! Bề nào anh cũng chịu trách nhiệm, không còn đủ tư cách làm trưởng nam, hưởng lợi từ mấy mẫu đất hương hỏa và thờ phụng ông bà được nữa! Hãy để người em ruột của anh làm việc thiêng liêng đó!”. Đó là kết luận của toàn bộ các gia đình thành viên của chi phái X tại một cuộc họp bất thường một ngày sau đó.

Cho đến ngày nay, sau hơn một thế kỷ qua, con rồi cháu của người em liên tục tiếp quản vai trò trưởng nam của chi phái. Còn gia đình người anh biết mình có lỗi với gia tiên đã câm lặng chịu đựng như chịu một thứ hình phạt không thể tha thứ. Nhiều người già trong chi phái từng đưa ra đề nghị “phục chức” cho gia đình người anh trưởng nhưng không ai chịu nhận.

Chiếc khăn đóng và “bản án” biệt xứ

Nghe xong câu chuyện làng bên, một bô lão lại liên tưởng đến “ vụ án chiếc khăn đóng” ở làng mình.

Cuối năm nọ, làng T có việc làng. Lý trưởng mời đại diện các tộc họ, chi phái đến dự. Giữa cuộc chè chén, trưởng nam chi tộc B cáo không uống được nữa, xin về sớm. Lại khăn đóng áo dài, mang đôi guốc mộc và kẹp chiếc dù đen vào nách. Một chút chân nam đá chân chiêu trên đường làng.

Về đến nhà, vị trưởng nam vất tất cả y trang vào một góc, leo lên tấm phản giữa nhà khò một giấc đến chiều.

Khi ấy tiệc ở nhà lý trưởng mới tan. Ai lấy khăn áo người đó, cáo quan ra về. Chỉ có một người không tìm được chiếc khăn đóng mới của mình nhưng tìm thấy một chiếc khăn khác đã cũ còn thừa lại! Người ấy nghĩ ngay đến trưởng nam chi tộc B bỏ về trước đã tráo khăn cũ để lấy khăn mới. Ông ta tri hô toáng lên và tìm đến nhà người kia:

- Ông bỏ lại khăn đóng cũ là có ý để lấy cắp cái khăn mới của tôi! Ông là đồ ăn cắp!

Nghe tiếng ồn ở nhà trưởng nam, mấy ông em ruột, em thúc bá gần đó chạy qua. Lại bị người kia phủ đầu:

- Anh chúng mày lấy cắp khăn mới của tao! Vậy có xứng đáng để chúng mày bênh vực không?

Mọi sự phân bua thực hư đều bị người kia bác bỏ. Lời sau càng hăng hơn lời trước vì chút rượu và cũng vì càng lúc ông ta càng thấy mình có lý hơn do bối cảnh xung quanh kích thích. Những người em của vị trưởng nam kia đều đuối lý vì tình ngay nhưng lý gian. Kẻ đứng im cúi đầu. Người mang khăn trả lại và xin người kia tha thứ.

Một cuộc họp chi phái được tổ chức ngay trước ngày cúng rước ông bà. Những người em của vị trưởng nam tuy có thể hiểu anh mình đã có sự nhầm lẫn do uống nhiều rượu nhưng bị người ngoại tộc đến tận nhà bêu riếu về phẩm hạnh như vậy là không thể biện bạch.

Người trưởng nam chi phái B suốt mấy đêm sau đó đã thức trắng. Suốt ba ngày tết anh ta chẳng dám ra ngoài. Ăn tết xong, một hôm vào lúc nửa đêm, ông trở dậy, dắt vợ, hai đứa con và mang theo cả trích lục đất đai, gia phả lặng lẽ bỏ làng ra đi, không nói với ai nửa lời. Chẳng ai biết vợ chồng họ trôi dạt về đâu! Chi phái phải đưa người em thứ của ông ta lên thay thế lo việc phụng cúng tổ tiên...

20 năm sau, trong lúc chiến tranh, trên quốc lộ ở đầu làng có một người mang lon thiếu úy lính cộng hòa xưng là con cháu chi phái B tìm về nhận gốc gác và hỏi thăm bà con. Hứa sẽ trở lại rồi từ biệt. Gần cuối cuộc chiến, người kia quay lại vội vàng với cái lon một hoa mai màu bạc trên ve áo. Anh ta chỉ nói vắn tắt rằng vị trưởng nam ngày nọ bỏ làng ra đi đã vào sinh cơ lập nghiệp ở tỉnh G ở miền Nam, sau người ấy thoát ly theo kháng chiến, giờ không tin tức gì. Chỉ nói vậy rồi đi ngay...

10 năm sau cuộc chiến, đầu làng lại xuất hiện một sĩ quan quân giải phóng, là người gốc ở tỉnh G, có cha ở tỉnh G tập kết ra Bắc, lấy vợ và sinh ông ra ngoài đó. Người này cho biết còn có anh cùng cha khác mẹ ở lại miền Nam, đi lính cộng hòa và đã ra sinh sống ở nước ngoài. “Trước khi đi anh ấy đã gửi lại cuốn phả hệ và bảo tôi phải tìm về với quê cha đất tổ xin họ hàng tha thứ cho cha...” - vị sĩ quan trẻ kể với ông trưởng chi.

Cả chi tộc mừng rỡ đón người thân trở về cùng với bộ gia phả quý báu đã “bất kiến” cùng với người trưởng nam năm nọ.

Chuyện cũ không nhiều người biết. Vị trưởng nam biệt xứ ngày nọ vì danh dự của dòng tộc và chức phận đầu đàn phải bỏ xứ ra đi. Bây giờ ông đã là người thiên cổ nhưng trải qua chừng ấy thời gian, ông vẫn đau đáu nhớ về quê làng. Những đứa con của ông trong cuộc chiến tranh sau đó tuy không đứng chung một chiến hào vẫn tìm về làng cũ. Họ đều giống nhau ở chỗ: coi cội nguồn là một nơi chốn thiêng liêng...

TRƯƠNG ĐIỆN THẮNG