Đoàn nhà báo chúng tôi, gồm hai lão thành “U-60” và một trẻ trung U-30, đều nhất trí sẽ thăm Bảo tàng Ngục Kon Tum trên đường từ biển (Quy Nhơn) lên núi.
Nhưng trước khi đến Kon Tum, chúng tôi phải thăm “em Pleiku má đỏ môi hồng” với “buổi chiều mù sương” của nhà thơ quá cố Vũ Hữu Định. Đường 19 đẹp vì may mà rừng còn xanh lá.
Cá nhân trong “bảo tàng” báo Gia Lai
Ông Đoàn Phùng, Tổng Biên tập báo Gia Lai, trước đây là bí thư huyện ủy, vui vẻ giới thiệu trụ sở “hoành tráng” mới xây. Tất cả đều mới. Và như thường lệ, lòng hiếu khách khiến ông mang ra mấy chai rượu Vodka, giọng hào sảng: “Báo chúng tôi phải tự lo tất cả. Mỗi năm phải làm ra 10 tỉ đồng chi phí. Lúc đầu ai cũng không dám nhưng cuối cùng vẫn được”. Tôi khá bất ngờ khi trong tòa nhà mới xây, báo dành hẳn căn phòng rộng và đẹp làm một “bảo tàng” của tờ báo với ảnh của các tổng biên tập và cán bộ chủ chốt từ lúc thành lập đến nay.
Chợt nhớ đến hành lang tòa soạn báo Washington Post, báo New York Time hay báo Patriot Ledger - nơi tôi thực tập năm 1996 cho một chương trình nghiên cứu về giáo dục truyền thông, đều có ảnh những phóng viên và chủ bút đóng góp nhiều cho sự phát triển của tờ báo. Nhiều tòa soạn báo của ta cũng có “phòng truyền thống” nhưng cách lưu giữ của báo Gia Lai có vẻ chuyên nghiệp, nhân văn và thân thiện hơn vì “dám” đưa lên ảnh và thành tích cá nhân của những nhà báo có công đóng góp cho tờ báo. Ở Việt Nam, việc ghi nhận thành tích cá nhân vẫn còn là một phạm trù nhạy cảm. Người ta chỉ treo ảnh của các vị tổng biên tập và cán bộ lãnh đạo chứ không có ảnh phóng viên - những nhân vật chủ chốt của những tin, bài nóng hổi tạo nên danh tiếng của tờ báo.
Hiện nay cả nước chúng ta có khoảng 15.000 nhà báo nhưng lại chưa thấy có những nhà nghiên cứu lịch sử báo chí. Sau này chắc chắn sẽ có và khi ấy, những “bảo tàng” nội bộ như của báo Gia Lai sẽ là nguồn tư liệu phong phú cho các nhà nghiên cứu về báo chí địa phương. Tại sao môn lịch sử báo chí hiện nay của ta không hấp dẫn sinh viên? Đó là vì thiếu những nghiên cứu khoa học từ thực tế làng báo Việt Nam, trong khi đó nền báo chí địa phương không thiếu những dẫn chứng sinh động và rất đặc thù như tờ báo của phố núi Pleiku...

Thăm Văn Miếu, Trấn Biên, Đồng Nai. Ảnh: DƯƠNG QUỐC ĐỊNH
Sự thật trong Bảo tàng Ngục Kon Tum
... Đứng trước cổng Bảo tàng Ngục Kon Tum, tôi có cảm giác mình bị rơi vào trạng thái quá nghiêm túc. Một phần có lẽ khung cảnh chung quanh vắng vẻ, một phần là vì thái độ cứng nhắc, lạnh lùng của cô bán vé.
Tôi cứ hình dung sẽ được nhìn thấy cảnh một nhà ngục thời Pháp nhưng trước mắt tôi là một kiến trúc bê tông hiện đại có vài đường nét Tây Nguyên. Kiến trúc dường như lạc lõng, khép nép giữa một không gian u tịch mênh mông.
Chỉ khi vào bên trong khách tham quan mới thấy được mô hình - cũng quá bé nhỏ để trở thành ấn tượng của ngục tù xưa. Có điều đọc những chữ viết còn lưu lại của các liệt sĩ vô danh, tôi nghe như vọng lên những tiếng kêu đòi quyền sống và tự do. Thời đại có thể đã khác đi nhưng những quyền này - như Hồ Chí Minh từng nói - vẫn phải đấu tranh mới có.
Tôi đưa máy ảnh chụp bức thư của một chiến sĩ cách mạng gửi vợ và con, bức thư không bao giờ được nhận, bên cạnh mô hình chòi canh với những hàng kẽm gai câm lặng mà thấy tự do không phải là một khái niệm vô hình. Người Việt đã đấu tranh chống ngoại xâm, giành lại tự do bằng máu.
Cả ba chúng tôi không ai bảo ai cùng thắp một nén hương. Có ai nói bên tai tôi: “Con người có thể già đi mà không bao giờ lớn nếu anh ta không biết lưu giữ quá khứ”. Môn sử dạy ở bậc tiểu học của chúng ta hiện nay quá khô khan trong khi lịch sử lại cho chúng ta quá nhiều bài học sống động như nhà ngục Kon Tum này và biết bao nhà tù khác, có cái đã mất đi trước khi “lịch sử” kịp đến. Nhưng trước tiên, chúng ta hãy dạy cho các em sự thật lịch sử chứ không phải chỉ tính chất anh hùng của lịch sử. Nếu như vậy, chúng ta không cần phải sơn lại lá cờ trên đuôi máy bay Mỹ bị bắn rơi như các em từng thấy trong các nhà bảo tàng chứng tích chiến tranh.

Việc học trong Bảo tàng Quang Trung
Tôi cứ nhắc lại với mình: Lần này đến Quy Nhơn nhất định phải đi thăm Bảo tàng Quang Trung. Đứng trong nhà bảo tàng này, tôi đọc thấy dòng chữ: “Kiến quốc dĩ giáo học vi tiên, cầu trị dĩ nhân tài vi cấp” (Xây dựng đất nước lấy việc học làm đầu, tìm lẽ trị bình tuyển nhân tài làm gấp). Bảo tàng ghi rõ ràng lời của vua Quang Trung về giáo dục: “Trước đây bốn phương nhiều việc phải phòng trị, việc học không được sửa sang, khoa cử bỏ lâu, nhân tài ngày càng thiếu thốn. Trẫm khi vừa mới bình định đã có nhã ý hậu đãi nhà nho, lưu tâm yêu mến kẻ sĩ, muốn có người thực tài để dùng cho quốc gia. Vậy ban chiếu xuống cho dân các xã nên lập học xã, chọn nho sĩ có học thức, hạnh kiểm làm thầy dạy, giáo dục cho học trò xã mình.” (Trích chiếu lập học)
Nguyễn Huệ xuất thân cũng chỉ là một nông dân áo vải nhưng có gì ngăn cản ông khi trở thành lãnh đạo đất nước, ông tập trung ưu tiên vào việc phát triển giáo dục, coi đó là nền tảng của tất cả các chương trình phát triển khác? Liệu người đời sau có làm được như ông? Ngay cả vào những ngày kỷ niệm chiến thắng Đống Đa hằng năm hay những lễ hội Quang Trung, cờ xí rợp trời, nhà tổ chức đã không thực hiện một băng rôn nào ghi những câu nói của vị vua anh hùng. Phải chăng chúng ta đã từng cố ý “phớt lờ’ điều răn dạy của tiền nhân?
Đi trong thành phố quê hương của Quang Trung, tôi vẫn thấy rất nhiều những khẩu hiệu nhưng không có mấy những trích dẫn của Quang Trung như những quy tắc ứng xử phổ quát của phát triển. Nếu chúng ta học được nguyên tắc dựng nước của ông thì có lẽ nay không phải mất nhiều thời gian đi tìm giải pháp cho vấn nạn giáo dục. Tất nhiên điều quan trọng nhất là hành động chứ không phải nhớ suông!
Sau khi đi thăm ba bảo tàng trên, tình cờ chúng tôi được ăn tối với một nhà lãnh đạo địa phương. Trong câu chuyện, ông tâm sự rằng ông sắp sửa nghỉ hưu mà trước mắt còn muôn vàn việc phải làm, rối rắm như cuộn tơ, không biết bắt đầu từ đâu. Tôi tự hỏi: Có khi nào ông một mình đến thăm Bảo tàng Quang Trung để tự mình chiêm nghiệm rằng: tất cả công việc thuộc về dựng nước hay phát triển chỉ có thể bắt đầu từ việc học - một nền thực học dựa trên con người cá nhân và sự thật.
TRẦN NGỌC CHÂU