
Ảnh minh họa: M.G |
Trong văn hóa ẩm thực các cộng đồng dân tộc A Lưới, có rất nhiều loại bánh như Adeep Man, Đệp Peng, Ân Chát, A Quát... Mỗi loại bánh đều có những nét đặc trưng văn hóa riêng.
Bánh A Quát là loại thông dụng hơn cả. Vào ngày Tết, 5 dân tộc ít người ở A Lưới cùng ăn bánh A Quát để nhắc nhở nhau về công lao của một vị thần tên là Tatưiq.
Chuyện xưa kể rằng, Tatưiq là một người dân tộc Tà Ôi. Chàng đã làm cho dân bản sống ấm no, giàu sang. Tatưiq đã chết đi trong hình hài con trâu nên họ đã làm bánh A Quát để ghi nhớ, tạ ơn và níu giữ Tatưiq trong tâm hồn mình.
Bánh A Quát được gói bằng lá đót tươi, lấy từ trong rừng và buộc bằng lá dứa rọc nhỏ. Nếp không ngâm nước để cho bánh săn chắc mềm dẻo. Loại bánh này không có nhân nên không nêm gia vị vào. Khi gói, người ta cầm ngửa lá đót, rồi quấn ngọn hoặc gốc vòng quanh ngón tay cái bên cánh trái hai vòng để tạo hình chóp nón. Sau đó lật ngược hình, cho nếp vào đầy. Nếp ở đây có thể là nếp đen, nếp than, nếp trắng, nếp tím...
Tiếp tục nghiêng hình chóp, dùng tay trái để quấn phần gốc hoặc ngọn còn lại của lá đót thành một hình chóp thứ hai nhưng đáy của hai hình chóp trùng nhau. Nhìn kỹ bánh thì chiếc bánh trông giống hình chiếc chân chim nhưng người Tà Ôi lại cho đó là hình hai chiếc sừng trâu, người gói còn ghép được ba hình chóp tượng trưng cho một con trâu hoàn chỉnh có đủ thân hình và đôi sừng trông rất đẹp.
Sau khi gói bánh xong, bánh được ngâm vào nước khoảng hai tiếng đồng hồ thì vớt lên, để cho ráo nước rồi cho vào nồi đổ ngập nước và đun sôi cho đến khi cạn nước. Khi bánh vừa chín xong, người ta lại vớt ra cho vào nồi nước lạnh ngâm chừng nửa tiếng để cho bánh nở đều và chín đẹp.
Khi ăn bánh, người ta thường ăn kèm với thịt gà hay thịt khô, thịt ống, cá thui ống hoặc cá khô xé nhỏ chấm với muối ớt.
Đới với người dân nơi “đỉnh trời”, ngày Tết ngồi nhâm nhi rượu cần, ăn A Quát quả là không còn gì bằng.
Nguyên Thọ/TNO