Dù các phong tục đón Tết có khác nhau nhưng đều hướng tới một ý nghĩa tốt đẹp chung nhất là cầu mong năm mới được ấm no, hạnh phúc, mùa màng tốt tươi, gặp nhiều may mắn…

Rực rỡ sắc màu phiên chợ Tết ở Cao Bằng
Người Lô Lô gọi gia súc dậy
Người Lô Lô cư trú chủ yếu ở tỉnh Hà Giang và một số ít ở tỉnh Cao Bằng.
Họ đón Tết khá giống người Kinh. Từ ngày 29, 30 Tết, nhà đã đều dọn dẹp sạch sẽ, chuẩn bị lợn gà, bánh trái để cúng tổ tiên. Chiều 30 Tết, các gia đình cũng sum họp đông đủ bên mâm cơm cuối năm, cung kính tổ tiên và chúc phúc cho các thành viên trong gia đình.
Tuy nhiên, người Lô Lô cũng có những phong tục riêng. Họ đón Giao thừa bằng cách đánh thức tất cả gia súc dậy... cùng chung vui. Đồng thời, những đồ dùng trong gia đình và cây cối trong vườn đều được dán giấy màu vàng hay màu bạc để chúng nghỉ ngơi trong 3 ngày Tết. Không ai được đụng đến hoặc di chuyển đi chỗ khác.
Từ trẻ đến già đều thức thâu đêm suốt sáng hoà vào không khí nhộn nhịp chung của cả dân làng...
Người H'Mông và tục vỗ mông
Người H'Mông có một hệ lịch riêng, vì vậy Tết của họ vào khoảng cuối tháng 11 đầu tháng 12 Âm lịch. Tuy nhiên, ngày nay, đa số đồng bào H'Mông đã ăn Tết Nguyên đán như người Kinh, chỉ trừ một bộ phận nhỏ người H'Mông ở Mộc Châu vẫn duy trì song song Tết theo hệ lịch riêng của họ.
Như người Kinh, khoảng 25, 26 tháng Chạp, mọi người bắt đầu nghỉ ngơi chuẩn bị đón Tết. Với người H'Mông, 3 món không thể thiếu trong mâm cỗ ngày Tết là thịt, rượu và bánh ngô. Tuy nhiên, họ không đón Giao thừa như người Kinh.
Tối hoặc nửa đêm 30, mỗi nhà đều phải làm lễ cúng "ma nhà" (tổ tiên) bằng một con lợn sống, một con gà còn sống (phải là gà trống tơ). Sau khi cúng xong, đem lợn và gà đi giết thịt, rồi cúng một mâm thịt chín. Sau đó mới được ăn và uống rượu đến khi nghe thấy tiếng gà gáy đầu tiên. Đối với họ, tiếng gà gáy sáng sớm của mùng Một mới đánh dấu một năm mới bắt đầu.
Bên cạnh đó, lễ hội Sải Sán hay Gầu Tào (hội cầu phúc) trong ngày Tết là lễ hội lớn nhất trong năm và thể hiện nét văn hóa đặc trưng không thể thiếu của người H'Mông. Lễ hội này thường diễn ra vào ngày mùng Hai của năm mới nhằm tạ ơn tổ tiên về mùa màng, súc vật, cầu cho con cháu đầy đàn.
Trong lễ hội, diễn ra rất nhiều hoạt động văn hoá như ném pao - một trong những trò người H'Mông rất thích, múa khèn, múa ô, hát ống, hát giao duyên... Đặc biệt vào ngày Tết, thanh niên trai gái người H'Mông thường hay tụ tập dưới chân núi để vui Xuân. Khi người con trai ưa người con gái nào đó, sẽ vỗ vào mông cô ta và dắt tay tìm chỗ tâm tình thâu đêm suốt sáng.
Người Cơ Tu cúng thần lúa
Người Cơ Tu thường ăn Tết sau vụ thu hoạch, họ mở hội vui chơi trong ngày lễ cúng thần lúa gọi là Tết Pro-giê-râm, đây là lễ lớn nhất trong năm.
Trước Tết một tuần, dân làng thường tổ chức đi bắt cá tập thể ở những con sông lớn. Họ ngâm các loại trái, vỏ, rễ cây làm cho cá bị say tự động nổi lên mặt nước rồi tha hồ bắt. Thực phẩm của người Cơ Tu trong ngày Tết chủ yếu là món ăn do đồng bào tự tay làm ra như nếp, lúa, sắn, ngô... Rượu cần và rượu tà vạt là thứ không thể thiếu trong ngày Tết của họ.
Ngoài việc ủ rượu, phụ nữ Cơ Tu còn lo giã nếp, hái lá đốt để làm bánh sừng trâu, nấu nhiều cơm lam để ăn và đãi khách. Ngoài ra, đồng bào Cơ Tu còn làm thêm món Za zá - món ăn được xem là đặc trưng của dân tộc. Họ dùng các loại rau, măng, lá môn, chuối xanh, thịt rừng hoặc cá, ếch nhái... trộn lại với nhau rồi cho vào ống nứa tươi và đốt lửa bên ngoài. Đây là món ăn dùng nhắm với rượu tà vạt.
Bên cạnh việc chuẩn bị nhiều món ăn, người Cơ Tu còn tổ chức các hoạt động văn hoá vui chơi như lễ hội đâm trâu, đánh cổng chiêng, nhảy điệu Za zá - điệu múa thiêng trong nghi lễ hiến sinh của người Cơ Tu, thể hiện sự vui mừng, lòng biết ơn đối với thần linh.
Người Gia Rai và Tết Bỏ Mả
Tết của dân tộc Gia Rai còn gọi là Tết Bỏ Mả. Lễ hội này giống với tục tảo mộ Tết thanh minh của người Kinh và giống Tết nhà Mả của đồng bào Ba Na nhưng được tổ chức lớn hơn nhiều.
Khi lễ Bỏ Mả bắt đầu, ngoài nghĩa địa sẽ vang lên tiếng cồng, chiêng, trống và thanh la. Mọi người trong buôn kéo nhau đến bên mồ mả của gia đình và dòng tộc, trên tay cầm đuốc sáng rực. Trước nhà mồ, người ta cắm một cây nêu treo những lá bùa xanh đỏ. Thầy cúng hoặc gia chủ lầm rầm khấn vái Giàng (trời), mong linh hồn của người chết được siêu thoát, về chung vui với con cháu và họ hàng. Người ta bày rượu cần, thịt và đốt lửa ăn uống, vui chơi, nhảy múa thâu đêm suốt sáng.
Người K"Ho ăn Tết mùa
Người K"Ho gọi ngày Tết là Nholir-bông cũng là Tết mừng mùa lúa mới, cơm mới nhưng không diễn ra vài ngày như các dân tộc khác mà kéo dài cả tháng. Đây là tháng nghỉ ngơi sau vụ gặt.
Trước khi diễn ra Tết Nholir-bông, người ta tổ chức lễ cúng Thần gió, cầu cho mưa thuận gió hoà để mùa gặt năm sau của họ được bội thu. Vào Tết Nholir-bông, nhà nào cũng giết trâu, bò, lợn, gà làm thịt, rượu cần cúng mừng có thóc mới.
Người K"ho có tục cắt tiết gà, lấy máu gà bôi lên bồ đựng thóc, các cửa lớn, cửa sổ; trộn máu gà với củ nghệ, mối đất, vỏ cây đa, cỏ tranh giã nhỏ, sau đó bôi lên ngực, lên trán của những người thân trong gia đình, bôi lên các đồ gia dụng với ý nghĩa cầu may, trừ tà...
Người Thái và tục gọi hồn
Thông thường ngày 25 tháng Chạp là phiên chợ cuối cùng, lớn nhất trong năm của người Thái.
Sau vài ngày dọn dẹp nhà cửa, tối 29 người Thái bắt đầu gói bánh chưng. Ngoài bánh chưng như của người Kinh, người Thái còn có thêm một loại bánh chưng màu đen. Để làm bánh chưng, họ đốt rơm, lấy tro giã lẫn gạo nếp rồi sàng sạch muội tro mà vẫn giữ được màu đen. Sau lễ cúng Giao thừa tối ngày 30, mọi người uống rượu suốt đêm và canh cho nhang khói trên bàn thờ tổ tiên cháy liên tục. Nhà nào có chiêng, cồng thì mang ra gõ tại nhà.
Một phong tục không thể thiếu trong ngày Tết của người Thái là tục gọi hồn. Thường vào tối 29 hoặc 30, mỗi gia đình thịt hai con gà, một để cúng tổ tiên, một để gọi hồn cho mọi người trong nhà. Đầu tiên, người cúng (thường là thày cúng) lấy một cái áo của mỗi người trong gia đình, bó lại một đầu với nhau, vắt lên vai, tay cầm một cây củi đang cháy, mang ra đầu làng gọi hồn hai ba lần, sau đó về chân cầu thang lại gọi một lần nữa. Xong việc, thầy cúng đích thân buộc một sợi chỉ đen vào tay mỗi thành viên gia đình để trừ tà...
Người Nùng không làm bánh ngày chẵn
Với người Nùng, ngày Tết thường kéo dài từ những ngày cuối của năm cũ đến hết 30 tháng Giêng năm sau.
Tết của người Nùng không cầu kỳ tốn kém nhưng chu tất, trịnh trọng. Thứ không thể thiếu trong phong tục ngày Tết của người Nùng là gà trống thiến và bánh khảo. Từ đầu tháng Chạp, nhà nhà đã lo nhốt gà vào lồng để vỗ béo. Người Nùng kiêng gói bánh chưng vào ngày chẵn, theo họ đó là những ngày không tốt, nương ruộng dễ bị vỡ lở, sâu bọ phá hoại mùa màng.
Đối với người Nùng, bữa cơm chiều 30 Tết là lớn nhất trong năm, gia đình sum họp, thắp hương tưởng nhớ ông bà. Sáng mùng Một Tết, người ta cắt những băng giấy đỏ dán lên tất cả những công cụ lao động trong gia đình và mỗi góc cây trong vườn nhà, chuồng trại; thắp hương cầu thần linh phù hộ cho mọi việc đều tốt đẹp trong năm mới...
Trương Minh-Đức Tôn tổng hợp (báo Thanh Tra)